Với chủ đề: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Đại hội XIII của Đảng đã xác định các nguồn lực để phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó phát huy các “nguồn lực của tôn giáo” là một nội dung được đề cập.

Đại hội XIII của Đảng. Nguồn ảnh: baochinhphu.vn
Văn kiện nêu quan điểm cần tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo, thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc. Báo cáo chính trị tại Đại hội chỉ rõ: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ “sống tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo và hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”(1).
Quan điểm phát huy các nguồn lực của tôn giáo góp phần vào sự phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có cơ sở từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đề tôn giáo. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị ban hành chính sách: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Quan điểm đoàn kết tôn giáo là tư tưởng lớn của Người, kế thừa truyền thống của dân tộc và được xây dựng trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng đó đã thể hiện nhận thức mới về tôn giáo nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc trong bảo vệ và gìn giữ chính quyền, xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, tư tưởng đó được kế thừa và phát triển, trở thành bước ngoặt lớn, dấu mốc quan trong trong tư duy của Đảng về tôn giáo, dựa trên những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, khẳng định: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, tôn giáo còn tồn tại lâu dài và đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Đảng tiếp tục nêu 5 quan điểm và chính sách, trong đó nhấn mạnh: đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết dân tộc; công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; vấn đề theo đạo và truyền đạo phải tuân thủ quy định của pháp luật. Các Văn kiện Đại hội X, XI, XII của Đảng đều nhất quán quan điểm trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật”(2); nhấn mạnh cần phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tôn giáo.
Nước ta hiện có 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và đăng ký hoạt động, với khoảng 26 triệu tín đồ (27% dân số cả nước); 55 nghìn chức sắc; hơn 130 nghìn chức việc; gần 28 nghìn cơ sở thờ tự(3), việc phát huy các nguồn lực của các tôn giáo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước là hết sức quan trọng. Đại đa số chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo đều có tinh thần yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tín đồ tôn giáo trước hết là các công dân Việt Nam, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức tôn giáo thực hiện đúng đường hướng, phương châm hành đạo gắn bó với dân tộc, tích cực hoạt động nhân đạo, từ thiện, góp phần thực hiện an sinh xã hội. Đặc biệt trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid - 19, nhiều tín đồ và tổ chức tôn giáo đã đóng góp công sức, tiền của, ủng hộ, giúp đỡ người dân các vùng có dịch, tích cực tham gia phòng, chống dịch. Các chức sắc tôn giáo cũng đã tham gia đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở một số địa phương, góp tiếng nói của giáo dân trong tham gia xây dựng đất nước.
Tỉnh Tuyên Quang hiện có 03 tôn giáo lớn (Phật giáo, Công giáo, Tin lành) với 54.098 tín đồ; 101 chức sắc; 82 cơ sở thờ tự. Hoạt động của các chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo cơ bản ổn định, chấp hành quy định của pháp luật, thực hiện đúng giáo lý, giáo luật, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lối sống văn hóa, tốt đời đẹp đạo. Các tôn giáo đã tham gia nhiều hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đồng hành với “sĩ tử” trong mùa thi; gần đây đã ủng hộ trên 150 triệu đồng tiền mặt và vật tư y tế, nhu yếu phẩm cho công tác phòng, chống dịch Covid - 19.
Phát huy tinh thần đoàn kết tôn giáo, các nguồn lực xã hội của tôn giáo trong tất cả các lĩnh vực để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là trách nhiệm của mỗi người dân, không phân biệt người theo tôn giáo hay không theo tôn giáo./.
Nguyễn Nhung
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXBCTQGST, Hà Nội, tập 1, trang 171
(2) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011)
(3) Sự phát triển nhận thức của Đảng về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6-2021