Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với thiện chí hòa bình Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với nước Pháp, mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Mặc dù Đảng và Chính phủ ta đã hết sức nhân nhượng song quân Pháp vẫn tiếp tục lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và quyết định chọn Tân Trào-Tuyên Quang làm Thủ đô kháng chiến để thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ.

Đình Tân Trào (Ảnh: Ngọc Chiến)
Với thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Nhân dân ta đã đập tan ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh khó khăn thù trong, giặc ngoài, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với nước Pháp, mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhưng với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, ngày 23/9/1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai, rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tìm cách đưa quân ra Bắc Bộ, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Hải Dương, gây nhiều vụ xung đột, khiêu khích ở Hà Nội.
Trước tình hình đó, Chính phủ ta đã chủ động đàm phán với Pháp để tránh cuộc chiến tranh, giữ hòa bình cho cả hai dân tộc, giữ độc lập tự do cho Tổ quốc, ngày 6/3/1946 ta đã ký Hiệp định sơ bộ, sau đó là Tạm ước ngày 14/9/1946 với chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư tới nguyên thủ các nước Anh, Mỹ, Liên Xô và các thành viên của Liên hợp quốc, nêu rõ thiện chí hoà bình, mong mỏi Liên hợp quốc chấp nhận những yêu cầu chính đáng của Việt Nam để duy trì hoà bình. Đồng thời, Người liên tục gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Pháp và cử phái viên đến gặp người cầm đầu Pháp ở Đông Dương, tìm cách cứu vãn hoà bình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu. Nhưng giới cầm quyền thực dân đã khước từ mọi nỗ lực cứu vãn hòa bình của chúng ta.
Trong các ngày 15 và 16/12/1946, quân Pháp nổ súng gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội. Ngày 17/12/1946, chúng cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, rồi gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún và phố Yên Ninh. Ngày 18/12/1946, tướng Môlie gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự và chướng ngại trên các đường phố, đòi để cho chúng làm nhiệm vụ giữ gìn trị an ở Hà Nội. Chúng tuyên bố nếu các yêu cầu đó không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động chậm nhất là sáng ngày 20/12/1946.
Trong tình thế đó, ngày 18 và 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc Thành phố Hà Nội), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, đề ra đường lối, quyết định cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiều ngày 19/12/1946, Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển đến các đơn vị lực lượng vũ trang mật lệnh về ngày và giờ của cuộc giao chiến trong toàn quốc. 20 giờ ngày 19/12/1946, tín hiệu bắt đầu kháng chiến toàn quốc được phát ra, đồng thời quân và dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc.
Sáng ngày 20/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (viết ngày 19/12/1946) được phát đi khắp cả nước:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến tuy rất ngắn gọn, nhưng là văn kiện quan trọng, mang tính chỉ đạo, hiệu triệu, động viên và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của toàn dân tộc để quân dân ta làm nên những thắng lợi bước đầu trong cuộc chiến đấu tại các đô thị, tạo nền tảng cho những chiến thắng vang dội về sau, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
Sau đòn tiến công chủ động, đồng loạt và bất ngờ lúc 20 giờ ngày 19/12/1946, quân và dân Thủ đô tiếp tục triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc. Trải qua 60 ngày đêm chiến đấu kiên cường, anh dũng, sáng tạo, quân và dân Hà Nội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho cơ quan đầu não, tản cư, bảo đảm an toàn cho nhân dân. Quân và dân Thủ đô đã đánh hàng trăm trận, làm tiêu hao nhiều sinh lực địch, giam chân chúng dài ngày trong thành phố, tạo điều kiện để cả nước bước vào chiến tranh, triển khai thế trận chiến đấu lâu dài. Phối hợp với Thủ đô Hà Nội, quân và dân các đô thị ở Bắc vĩ tuyến 16 cũng giành được thắng lợi quan trọng. Quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kế hoạch bình định, kiềm chế không cho địch đưa lực lượng chi viện cho Trung Bộ và Bắc Bộ.
Ngay khi thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng và Hà Nội (tháng 11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp (Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia): “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu?”; đồng chí Võ Nguyên Giáp thưa rằng “Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định giữ được” (1). Nghe xong, Người Quyết định “Ta lại trở về Tân Trào” (2). Thực hiện chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với những cuộc chiến đấu trực tiếp với quân Pháp, chúng ta thực hiện cuộc tổng di chuyển các cơ quan, kho tàng, máy móc vào An toàn khu. Đến tháng 3/1947, các cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân đội, Mặt trận đã được chuyển lên Việt Bắc an toàn. Đúng vào ngày 02/4/1947, năm Đinh Hợi lịch sử, sau hành trình dài rời Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân đến Làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Đây là nơi ở, làm việc đầu tiên khi Người trở lại chiến khu Việt Bắc mở đầu hành trình gần 6 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở, làm việc tại trên 20 địa điểm khác nhau trên đất Tuyên Quang. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ cùng 65 cơ quan trung ương (trong đó có 13/14 Bộ, cơ quan ngang Bộ) cũng trở lại Tuyên Quang - nơi đây đã trở thành Thủ đô Kháng chiến của cả nước.
Trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến, Tuyên Quang là trung tâm của căn cứ địa kháng chiến. Tại đây đã diễn ra nhiều Đại hội, hội nghị quan trọng để xây dựng các chủ trương, quyết sách quyết định vận mệnh của dân tộc đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, trong đó nổi bật hơn cả là Đại hội lần thứ II của Đảng tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua cương lĩnh, bổ sung và phát triển đường lối cách mạng Việt Nam; Tuyên Quang là nơi diễn ra Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh - Liên Việt; Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 khóa II, ra chủ trương đẩy mạnh để kết thúc kháng chiến, lập lại hòa bình; Hội nghị liên minh ba nước Việt Nam - Lào - Capuchia; nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chỉ đạo cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuyên Quang cũng là nơi diễn ra nhiều hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan, đoàn thể khi tiếp xúc với đại biểu của các tổ chức quốc tế như Chính phủ kháng chiến, mặt trận yêu nước Lào, Campuchia, đoàn cố vấn Trung Quốc, đại diện mốt số đảng cộng sản...
Tại Tuyên Quang, quân và dân trong tỉnh đã trực tiếp chiến đấu, phối hợp chiến đấu giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, trong đó có chiến thắng Bình Ca là một trong 3 chiến thắng đầu tiên, có tác dụng cổ vũ quân dân Việt Bắc thi đua giết giặc lập công; chiến thắng km7, là 1 trong 10 chiến thắng lớn nhất của Chiến dịch Việt Bắc, thực dân Pháp kinh hoàng gọi là “tiếng nổ hỏa ngục”; chiến thắng Khe Lau là 1trong 10 chiến thắng lớn nhất của Chiến dịch Việt Bắc với hơn 200 tên giặc Pháp phải bỏ mình trong “biển lửa” của quân và dân Tuyên Quang. Những chiến thắng đó góp phần đập tan âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, bảo toàn được căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ tuyệt đối an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cơ quan đầu não kháng chiến. Ngay sau ngày chiến thắng Việt Bắc, tại vùng An toàn khu thuộc huyện Yên Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Việt Bắc anh dũng” tuyên dương thành tích chiến đấu của quân dân Việt Bắc.
Cùng với đó, Đảng bộ, quân và dân Tuyên Quang đã làm tốt nhiệm vụ của tỉnh hậu phương, bảo vệ vững chắc căn cứ địa, các cơ quan Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham gia các chiến dịch lớn như Pômôn, Biên giới, Hòa bình, Tây bắc, Điện Biên phủ; cung cấp lương thực, thực phẩm, nhân lực, vật lực cho tiền tuyến; xây dựng xã hội mới trên quê hương cách mạng, để nhân dân cả nước “Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”(Thơ Tố Hữu).
Suốt hơn ba ngàn ngày kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đến chiến dịch Đông xuân 1954-1954, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân cũ của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954 “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Trên nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp bị loại khỏi vòng chiến đấu, khoảng 3.000 tỷ phrăng của nước Pháp và 2 tỷ 600 triệu đôla Mỹ viện trợ tiêu phí vì chiến tranh; 20 lần Chính phủ Pháp bị đổ; 7 lần toàn quyền Pháp bị thay thế; 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau thua trận. Pháp buộc phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, phải rút hết quân khỏi miền Bắc nước ta. Ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương kéo dài hơn 80 năm đã chấm dứt.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định rõ tầm vóc giá trị to lớn của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đứng đầu của Chỉ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân ta đã bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Lần đầu tiên trong lịch sử gần một trăm năm, trên phần nửa đất nước ta đã sạch bóng quân xâm lược. Chính quyền mới được bảo vệ, củng cố và phát triển. Chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và kiện toàn, nhân dân lao động thực sự làm chủ vận mệnh của mình. Qua chiến tranh, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nói riêng được tôi luyện, trưởng thành và phát triển mạnh mẽ. Những yếu tố cơ bản nêu trên đã tạo ra tiền đề về chính trị và xã hội vững chắc để miền Bắc xây dựng và phát triển theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương lớn - nhân tố quyết định nhất đối với thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã đóng góp quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyền thống lịch sử hào hùng luôn là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, đảng viên, quân và dân Tuyên Quang thi đua giành nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nỗ lực phấn đấu đưa tỉnh nhà phát triển khá, toàn diện, bền vững trong khu vực miền núi phía Bắc, thực hiện lời dậy của Bác khi Người về thăm Tuyên Quang năm 1961: “Trước kia, đồng bào tỉnh ta đã góp phần xứng đáng trong Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến cứu nước. Ngày nay, tôi chắc rằng đồng bào ta sẽ phát huy truyền thống anh dũng sẵn có và góp phần nhiều hơn nữa trong công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội…”.
Nguyễn Văn Đức
- Tạp chí Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1997, số 11, tr.25-26.
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Sđd, tr.614.