Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 2020-2025 xác định “Phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng” là một trong hai khâu đột phá để hiện thực hóa mục tiêu “Phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; sớm đưa Lâm Bình thoát khỏi huyện nghèo”.
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/HU ngày 29/4/2021 về phát triển một số cây trồng, vật nuôi có lợi thế theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với du lịch trên địa bàn huyện Lâm Bình đến năm 2025; Chương trình hành động số 13-CTr/HU ngày 17/9/2021 về thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TU ngày 26/6/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021-2030. Trong đó đã xác định 03 cây (chè Shan, lúa, lạc), 03 con (dê, cá đặc sản, lợn đen) có lợi thế để triển khai thực hiện.
Qua nửa đầu nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn, với nhiều biến động như: thời tiết diễn biến bất thường do biến đổi khí hậu, Dịch Covid 19 bùng phát, tình hình dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn và sự đoàn kết sáng tạo của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với sự vào cuộc nhân dân trên địa bàn nên việc phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế của huyện theo hướng sản xuất hàng hóa, chuỗi giá trị, gắn với thị trường tiêu thụ đã đạt được những kết quả khả quan.
- Về thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng đến hết năm 2022, Lâm Bình đã chuyển đổi 69,5ha diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác, cụ thể: Chuyển đổi từ đất lúa sang trồng cây lạc 26,5 ha; trồng cây lâu năm 21 ha; chuyển đổi trồng lúa kết hợp nuôi trồng thuỷ sản là 22 ha.
- Phát triển các sản phẩm chủ lực, đặc sản có lợi thế; huyện xác định tập trung phát triển các sản phẩm nông sản hàng hoá chủ lực, có lợi thế như: chè, lạc, lúa đặc sản, lợn đen, dê địa phương và cá đặc sản ... theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với nhu cầu thị trường. Hiện nay, huyện có trên 282 ha chè Khau Mút, trên 1.900 ha lạc, trên 112 lồng cá đặc sản, trên 5.000 con dê địa phương và trên 12.000 con lợn đen...

Mô hình nuôi lợn đen

Mô hình nuôi vịt cổ xanh
Một số sản phẩm đã phân hạng sản phẩm OCOP gồm có: Lạc nhân, lạc vỏ, dầu lạc, chè Shan Khau Mút; Thịt Dê núi, Chả cá lăng, Ruốc cá lăng, Cá lăng nướng... đã có được thương hiệu trên thị trường. Tính đến hết năm 2022, đã có 20 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, trong đó: Có 18 sản phẩm xếp hạng 3 sao và 02 sản phẩm xếp hạng 4 sao; mục tiêu đề ra đến hết 2025 mỗi xã có ít nhất 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên.
- Về tổ chức sản xuất: Huyện đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế tập thể, kinh tế trang trại. Hiện trên địa bàn huyện đã có 38 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản được thành lập và đi vào hoạt động; qua đánh giá về hoạt động sản xuất kinh doanh có 06 hợp tác xã hoạt động tốt, 10 hợp tác xã hoạt động khá; trong đó, có 06 hợp tác xã trực tiếp tham gia sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có liên kết theo chuỗi giá trị.
- Việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý sản phẩm và xây dựng chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn và VietGAP cho nông sản đã được chú trọng. Đến nay huyện có 11 sản phẩm được đánh giá đề nghị chứng nhận theo tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Từ những kết quả nêu trên, bước đầu đã hình thành được một số chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn huyện. Giá trị sản xuất của ngành được nâng lên theo từng năm, năm sau đạt cao hơn năm trước; cụ thể: Năm 2021, đạt 353 tỷ đồng, đến năm 2022 đạt 421 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2023, ước đạt 213 tỷ đồng (mục tiêu Nghị quyết đề ra là trên 456 tỷ đồng); tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7% (mục tiêu Nghị quyết đề ra là trên 5,6%/năm).
Để duy trì và nâng cao hiệu quả đối với việc phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế của huyện theo hướng sản xuất hàng hóa, chuỗi giá trị, gắn với thị trường tiêu thụ ở nửa cuối nhiệm kỳ và những năm tiếp theo, huyện Lâm Bình xác định tập trung thực hiện một số giải pháp:
Một là, tập trung nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu và nhà máy chế biến sản phẩm theo chuỗi giá trị, gắn với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất; quản lý chặt chẽ quy hoạch đã được phê duyệt. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, phát triển hàng hóa nông, lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản hàng hóa theo chuỗi giá trị, tăng tỷ lệ vốn đầu tư cho hạ tầng công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn, hệ thống giao thông nội đồng; xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ phát triển nông nghiệp tạo đà thu hút đầu tư.
Hai là, tăng cường công tác đào tạo nghề bảo đảm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại được tiếp cận và biết áp dụng các công nghệ vào sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho lao động trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp. Tập huấn, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về phát triển kinh tế. Tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông và không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ nông nghiệp. Tổ chức thực hiện các mô hình điểm về phát triển sản xuất cây trồng vật nuôi có lợi thế; theo dõi, tổng kết, đánh giá hiệu quả kinh tế và tuyên tryền nhân rộng các mô hình đạt hiệu quả.
Ba là, thực hiện nghiêm các quy trình thực hành nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ; đẩy mạnh cơ giới hóa ở tất cả các khâu từ sản xuất đến chế biến; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, tiếp cận, chuyển giao các giống cây trồng vật nuôi có ưu thế, có năng suất, chất lượng cao; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến, sử dụng công nghệ cao trong bảo quản sản phẩm. Duy trì các chuỗi liên kết sản xuất sẵn có; xây dựng hình thành các chuỗi liên kết mới và tiếp tục hỗ trợ, đầu tư cấp để phát huy có hiệu quả các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Bốn là, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ; kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm; thự chiện quảng bá thương hiệu sản phẩm. Hoạt động sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp phải gắn với nhu cầu của thị trường, chú trọng thực hiện hiệu quả Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm OCOP”. Xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm có tiềm năng lợi thế của huyện gắn với hồ sơ “chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc” sản phẩm; xây dượng thương hiệu: Logo, nhãn, website… của sản phẩm theo các tiêu chí của OCOP. Quy hoạch, phối hợp cấp mã vùng trồng cho các loại cây trồng có tiềm năng lợi thế, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp theo các tiêu chuẩn hữu cơ và các tiêu chuẩn như: VietGAP, GlobalG.A.P…., nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa có chất lượng cao trên toàn huyện.
Năm là, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tập thể trên cơ sở hình thành các nhóm sở thích, Tổ hợp tác; liên kết giữa các nhóm chung sở thích và các tổ hợp tác để từng bước thành lập các hợp tác xã kiếu mới. Phát triển loại hình hợp tác xã làm dịch vụ sản xuất, cung ứng dịch vạu đầu vào, đầu ra cho nông dân. Liên kết với các doanh nghiệp để cung ứng vật tư và thu mua, chế biến, tiêu thụ nông sản cho nhân dân; xây dựng cơ chế phù hợp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản sau thu hoạch. Khuyến khích từng bước phát triển công nghiệp chế biến sâu, chế biến công nghệ cao. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp, HTX đầu tư kết cấu hạ tầng xây dựng nhà xưởng, bến bãi, kho tàng, máy móc, trang thiết bị …; phục vụ liên kết sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Sáu là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự tham gia của cả hệ thống chính trị; thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị và môi trường sản xuất. Chủ động rà soát lựa chọn cây trồng, vật nuôi có lợi thế phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương đưa vào sản xuất để đạt hiệu quả cao nhất; quy hoạch lại vùng sản xuất và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Tạo điều kiện tốt nhất nhằm đảm bảo quyền sử dụng đất cho hộ sản xuất khi tham gia liên kết với các hợp tác xã và doanh nghiệp. Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng đất nông nghiệp của các doanh nghiệp hợp tác xã khi thuê đất; áp dụng các cơ chế, chính sách để kịp thời hỗ trợ cho nông dân khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh.
Đào Việt Dũng