Bối cảnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025 có nhiều thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen, trong đó có những khó khăn, thách thức chưa từng có.
.gif)
Ảnh minh họa: Tất Thắng
Với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực, quyết liệt, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các nhiệm vụ chính trị, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo cụ thể hóa, triển khai nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, giải pháp chưa có trong tiền lệ về công tác phòng, chống dịch COVID-19, ứng phó kịp thời đối với những tác động, ảnh hưởng tiêu cực; tập trung phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội ngay sau khi kiểm soát được dịch bệnh; tổ chức nhiều cuộc họp, hội nghị, buổi làm việc để chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia và nâng cao hiệu quả công tác thu ngân sách nhà nước; phân công các đồng chí cấp ủy viên theo dõi địa bàn, lĩnh vực trực tiếp đôn đốc, nắm tình hình việc triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ. Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức các kỳ họp chuyên đề, thống nhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từ thực tiễn đặt ra. Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề, đối thoại với người dân và doanh nghiệp; thành lập các tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Bằng nhiều giải pháp tích cực, hiệu quả, tỉnh đã tập trung huy động nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ năm 2021 đến hết tháng 6 năm 2023 đạt trên 31.600 tỷ đồng, trong đó đã tập trung phân bổ cho các công trình, dự án trọng điểm tạo động lực tăng trưởng, tránh đầu tư dàn trải, ưu tiên cho các công trình, dự án giao thông kết nối để liên kết vùng, tháo gỡ “điểm nghẽn”, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Sau hơn 02 năm rưỡi thực hiện, có 14/15 chỉ tiêu chủ yếu cơ bản đảm bảo kết quả, lộ trình Nghị quyết Đại hội đề ra, có 01 chỉ tiêu kết quả đạt thấp (chỉ tiêu về tỷ lệ đô thị hóa); cụ thể như sau:
(1). Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (giá so sánh 2010): Tốc độ tăng tổng sản phẩm bình quân giai đoạn 2021-2023 là 8,12% (mục tiêu Nghị quyết tốc độ tăng GRDP bình quân 05 năm trên 8%); đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(2). Tổng sản phẩm (GRDP) bình quân đầu người (theo giá hiện hành): Năm 2021 đạt 46,1 triệu đồng. Năm 2022 đạt 51,7 triệu đồng. Đến hết năm 2023, dự kiến đạt 55,7 triệu đồng, đạt 87% mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 đạt 64 triệu đồng); cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(3). Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ (giá so sánh 2010): Bình quân 2021-2023, tăng 8,06%, đạt mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 tăng bình quân 5 năm đạt 8%); đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(4). Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010): Bình quân 2021-2023, tăng 14%, đạt mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 tăng bình quân 5 năm đạt 14%); đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(5). Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (giá so sánh 2010): Bình quân 2021-2023, tăng 4,9%/năm, đạt mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 tăng bình quân 5 năm đạt 4%); đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(6). Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới: Năm 2021 đạt 44,3%, năm 2022 đạt 50,8%, ước năm 2023 đạt 60,6% (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí của 47 xã đạt chuẩn nông thôn mới; đến năm 2025 có 68% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu trong tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới; có thêm 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới); cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(7). Thu hút khách du lịch: Năm 2021 đạt 1,9 triệu lượt khách; năm 2022 đạt 2,3 triệu lượt khách; dự kiến đến năm 2023 dự kiến đạt 2,5 triệu lượt khách, đạt 96% mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 thu hút 2,6 triệu lượt khách du lịch); cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(8). Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: Từ năm 2021-2022 đều đạt và vượt kế hoạch (năm 2021 đạt 2.685,7 tỷ đồng; năm 2022 đạt 2.797,5 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2023 đạt 1.209,2 tỷ đồng). Đến năm 2023 dự kiến đạt 3.200,5 tỷ đồng, đạt 80% mục tiêu Nghị quyết, đạt 60,4% so với Đề án phát triển nguồn thu và tăng cường quản lý ngân sách (mục tiêu Nghị quyết năm 2025 trên 4.000 tỷ đồng; Đề án phát triển nguồn thu và tăng cường quản lý ngân sách: 5.300 tỷ đồng); cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(9). Tỷ lệ đô thị hóa: Dự kiến đến hết năm 2023, tỷ lệ đô thị hóa đạt 19,56%, dự kiến đến năm 2025 đạt 22,34% (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 trên 27%); chưa đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
(10). Duy trì 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2 trở lên, phổ cập giáo dục tiểu học từ mức độ 2 trở lên, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, đạt chỉ tiêu Nghị quyết. Tỉ lệ trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 55,7% (257/461 trường), tăng 11,4% so với năm 2020; trong đó cấp mầm non đạt 48,0%; cấp tiểu học đạt 67,2%; cấp THCS đạt 61,1%; cấp THPT đạt 25,7%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65,8%, trong đó có bằng, chứng chỉ đạt 24,9%; cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết Đại hội đến năm 2025 duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo tiểu học từ mức độ 2 trở lên, phổ cập giáo trung học cơ sở mức độ 2. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học: mầm non 53%, tiểu học 70%, trung học cơ sở 70% và trung học phổ thông 35%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 72%, trong đó có bằng, chứng chỉ 30%).
(11). Tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa: đến năm 2023 dự kiến đạt 90,6%, đạt mục tiêu Nghị quyết; tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa: đến năm 2023 dự kiến đạt 86,6%, đạt mục tiêu Nghị quyết; tỷ lệ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa: đến năm 2023 dự kiến đạt 95,0%, đạt mục tiêu Nghị quyết; đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025: trên 90% hộ gia đình; trên 80% thôn, bản, tổ dân phố; trên 95% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa).
(12). Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi): đến năm 2023 dự kiến đạt 21,6%; tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã: đến năm 2023 dự kiến đạt 94,2%; số giường bệnh/10.000 dân: đến năm 2023 dự kiến đạt 37,4%; số bác sĩ/10.000 dân: đến năm 2023 dự kiến đạt 9,4; tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế: đến năm 2023 dự kiến đạt 95,8%; cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi) dưới 20%; 100% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã; có 10 bác sĩ và 35 giường bệnh/10.000 dân. Phấn đấu 100% người dân có thẻ bảo hiểm y tế).
(13). Tỷ lệ hộ nghèo: Năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020) giảm 2,43% (kế hoạch 2,1%); năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2022-2025) giảm 4,55%, kế hoạch 3,48%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội; đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết đến năm 2025 tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2-2,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020).
(14). Tỷ lệ che phủ rừng: đến năm 2023 dự kiến đạt trên 65%, đạt mục tiêu Nghị quyết; tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch: đến năm 2023 dự kiến đạt 98,7%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: đến năm 2023 dự kiến đạt 96,5%; chất thải nguy hại, chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn: đến năm 2023 dự kiến đạt 100%; chất thải rắn thông thường được xử lý đạt tiêu chuẩn: đến năm 2023 dự kiến đạt 95,5%; cơ bản đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội (mục tiêu Nghị quyết Đại hội đến năm 2025 tỷ lệ che phủ rừng trên 65%; 99% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch, 98% dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% chất thải nguy hại, chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn, 96% chất thải rắn thông thường được xử lý đạt tiêu chuẩn).
(15). Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức “Hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên” hằng năm đều hoàn thành vượt kế hoạch; đảm bảo lộ trình thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (năm 2021 đạt 94,82%; năm 2022 đạt 95,77%; mục tiêu Nghị quyết Đại hội là 90%); tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (năm 2021 đạt 92,17%; năm 2022 đạt 92,37%; mục tiêu Nghị quyết Đại hội là 85%); tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (năm 2021 đạt 94,65%; năm 2022 đạt 95,09%; mục tiêu Nghị quyết Đại hội là 85%).
Những kết quả nêu trên là sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, các cấp, các ngành, Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh, tạo nền tảng, cơ sở để tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII./.
N.T.B.H