Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hương phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2020, Tuyên Quang đã tích cực, chủ động và có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả trong sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Thành phố Tuyên Quang. Ảnh: Quang Minh
Giai đoạn 2004 - 2012: Tỉnh Tuyên Quang tổ chức, sắp xếp bộ máy và cán bộ theo hướng tinh gọn, có hiệu quả, khắc phục những chồng chéo và phân cấp mạnh cho cấp huyện, cấp cơ sở. Việc bố trí các chức danh cán bộ, công chức cấp xã đã góp phần xây dựng được số lượng, cơ cấu chất lượng thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý ở từng cấp; 100% thành viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu quản lý…
Số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã sau điều chỉnh địa giới hành chính có sự biến động: Toàn tỉnh tăng từ 06 đơn vị hành chính cấp huyện lên 07 đơn vị; giảm từ 145 đơn vị hành chính cấp xã xuống còn 141 đơn vị[1].
Giai đoạn 2013-2020: Hệ thống chính quyền được xây dựng, củng cố kiện toàn, giảm 03 đơn vị hành chính cấp xã từ 141 đơn vị xuống còn 138 đơn vị; giảm 363 thôn, tổ dân phố từ 2.096 thôn, tổ dân phố xuống còn 1.733 thôn, tổ dân phố[2].
Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã: Hội đồng nhân dân cấp xã đã thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo kế hoạch đề ra, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tính đến thời điểm 31/12/2020, toàn tỉnh có 3.501 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, giảm 189 người so với đầu nhiệm kỳ 2016-2021 (3.690 đại biểu). Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương. Tuy nhiên, một số đại biểu ở một số đơn vị do hạn chế về trình độ, năng lực nên việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu Hội đồng nhân dân cũng gặp khó khăn. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp; lựa chọn được 2.992 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân[3].
Hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã: Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện việc quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực theo nguyên tắc dân chủ. Chủ động thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy chế làm việc nhiệm kỳ 2016-2021, rõ ràng trong phân công nhiệm vụ, trách nhiệm của cá nhân và trách nhiệm tập thể; phát huy tốt chức năng chỉ đạo, điều hành, quản lý hành chính nhà nước trên tất cả lĩnh vực, giải quyết yêu cầu liên quan đến tổ chức, công dân đảm bảo nhanh chóng, hạn chế phiền hà; tổ chức và hoạt động của thôn, xóm, tổ dân phố được củng cố và tăng cường.
Tính đến thời điểm 31/12/2020, số lượng thành viên Uỷ ban nhân dân xã là 485 người, số lượng phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp được thực hiện đúng theo quy định[4].
Về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã: Cán bộ, công chức ở cơ sở được bố trí đúng quy định, bảo đảm các lĩnh vực công tác, các nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền cấp xã đều có người đảm nhiệm, đáp ứng việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực. Tổng số cán bộ, công chức cấp xã tính đến 31/12/2020 là 2.677 người, trong đó cán bộ cấp xã 1.337 người, công chức cấp xã 1.340 người; số lượng cán bộ, công chức cấp xã thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố không vượt quá số lượng quy định tại Quyết định số 364-QĐ/UBND ngày 18/10/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu thực hiện chức trách nhiệm của từng chức vụ, chức danh, cụ thể: Trình độ học vấn trung học cơ sở 10/2.677 người, chiếm 0,37%; Trung học phổ thông 2.667/2.677 người, chiếm 99,63%. Trình độ chuyên môn chưa qua đào tạo là 10/2.677 người, chiếm 0,37%; trung cấp 523/2.677 người, chiếm 19,54%; cao đẳng 126/2.677 người, chiếm 4,7%; đại học 1.987/2.677 người, chiếm 74,23%; trên đại học là 31/2.677 người, chiếm 1,16%[5].
Công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã: Thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng, đúng quyền lợi theo quy định; giải quyết nghỉ hưu, thôi việc, nghỉ chế độ chính sách đối với 192 cán bộ, công chức cấp xã; xếp lương, nâng bậc lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn đối với 1.318 người[6].
Hoạt động và thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách: Đến 31/12/2020, tổng số người hoạt động không chuyên trách là 1.243 người; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là 4.161 người. UBND huyện, thành phố đã bố trí số lượng, chi trả phụ cấp hằng tháng, phụ cấp kiêm nhiệm các chức danh và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND ngày 01/8/2019 của Hội đồng nhân dân, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ. Thực hiện chi trả chính sách theo đúng quy định[7].
Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn: Cấp ủy, chính quyền các xã, phường, thị trấn thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng và triển khai thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã đi vào nền nếp, phát huy hiệu quả và đạt được những kết quả như: Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, dịch vụ công trực tuyến được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đến liên hệ; công khai để nhân dân biết các chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn vốn nhà nước đầu tư, các chính sách an sinh xã hội…
Duy trì tốt việc thực hiện đối thoại trực tiếp của chính quyền với Nhân dân được thực hiện thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND, qua các buổi tiếp công dân; xây dựng kế hoạch và tổ chức đối thoại với nhân dân theo đúng quy định.
Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Từ đó, tinh thần đoàn kết, chung sức của cộng đồng nhân dân được phát huy tạo thuận lợi trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới.
Tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố: Tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố được chính quyền cấp xã quan tâm củng cố và tăng cường. Tỉnh chỉ đạo thực hiện chú trọng bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn; đồng thời, kiện toàn các chức danh ở thôn, tổ dân phố để đảm bảo hoạt động thông suốt. Chính quyền xã thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định của Quy chế tổ chức hoạt động của thôn, tổ dân phố, hoạt động đúng quy định, bảo đảm tính tự chủ, linh hoạt. Các cuộc họp được thực hiện dân chủ, công khai, tiết kiệm, hiệu quả và khoa học, được nhân dân đồng tình ủng hộ, thống nhất cao, phát huy vai trò là tổ chức tự quản của Nhân dân tại cơ sở.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc rà soát, quy định chức năng, nhiệm vụ và sắp xếp tổ chức bộ máy của một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND cấp huyện còn chậm. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng có mặt còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Công tác quản lý, điều hành của chính quyền cấp xã có lúc chưa thật sự sâu sát; việc phối hợp trong triển khai thực hiện một số chương trình, cuộc vận động hiệu quả chưa cao.
Trong thời tới, để làm tốt công tác xây dựng hệ thống chính trị, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước kịp thời, không chồng chéo và có hiệu quả. Tiếp tục thực hiện các quy định của Trung ương về cơ chế khoán kinh phí hoạt động đối với các cơ quan hành chính nhà nước; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu. Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước các cấp, các ngành; kịp thời chấn chỉnh, xử lý những trường hợp vi phạm theo quy định. Tập huấn, bồi dưỡng công tác tổ chức bộ máy, cải cách tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị, tổ chức.
Thứ hai, tăng cường theo dõi, kiểm tra vể tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND cấp xã và việc bố trí, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định. Chủ động hướng dẫn, kiểm tra và kịp thời tháo gỡ, giải quyết, đề xuất giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh.
Thứ ba, tiếp tục thực hiện các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo chương trình, kế hoạch đã đặt ra và theo chỉ đạo của cấp trên; thực hiện bồi dưỡng cán bộ, công chức theo kế hoạch.
Có thể nói, Nghị quyết 37-NQ/TW đã đi vào cuộc sống, trở thành động lực làm thay đổi đời sống kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của cả vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
Nguyễn Thanh Thuỷ
------------------------------------------------
[1],[2],[3],[4],[5],[6],[7]: Báo cáo số 83-BC/TU ngày 06/8/2021 về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hương phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2020.