Bảo đảm tương quan cân đối, công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng hưởng lương, trợ cấp xã hội góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

31/07/2024
729

Luôn cố đọc bằng tiếng Việt (vi-VN). Nếu máy chưa có gói giọng Việt, hãy cài trong Cài đặt → Ngôn ngữ / TTS. Đọc theo từng câu để mượt và hạn chế lỗi.

Ngày 21/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 83-KL/TW về cải cách tiền lương; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội từ ngày 01/7/2024. Đây là vấn đề lớn, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng trong xã hội, vì vậy, để cụ thể hoá chế độ tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018, Chính phủ đã kịp thời ban hành các nghị định để triển khai thực hiện. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động mong chờ từ lâu và đón nhận trong tâm trạng hào hứng, phấn khởi.

Theo Kết luận số 83-KL/TW, đối với khu vực doanh nghiệp, tiền lương được thực hiện cải cách theo 2 nội dung: Điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng (theo tháng và theo giờ). Quy định tại Nghị định số 74/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ cả nước được chia thành 4 vùng; trong đó, mức lương tối thiểu khu vực doanh nghiệp thuộc vùng I là: 4.960.000 đồng/tháng (cao nhất) và giảm dần mức lương tối thiểu đối với khu vực II, III và khu vực IV là: 3.450.000 đồng/tháng.

Đối với tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, kể từ ngày 01/7/2024, thực hiện theo Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, trong đó cụ thể hoá 7 nội dung của Kết luận số 83-KL/TW: bảo đảm tương quan cân đối, công bằng giữa các đối tượng hưởng lương, thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng (tăng 30%); thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, kịp thời động viên, khích lệ, tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

Khi mức lương cơ sở tăng từ 1,8 triệu lên 2,34 triệu đồng, giúp cải thiện đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, bảo đảm cho cuộc sống “sống được bằng lương” vì vậy ý nghĩa về cải cách tiền lương càng được nâng cao.

Đối với người đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tăng 15% so với mức lương của tháng 6/2024; với người đang hưởng lương hưu trước năm 1995 nếu sau khi điều chỉnh mà có mức hưởng thấp hơn 3,2 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh tăng 0,3 triệu đồng/tháng, có mức hưởng từ 3,2 triệu đồng/tháng đến dưới 3,5 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh để bằng 3,5 triệu đồng/tháng; điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công theo mức chuẩn trợ cấp từ 2.055.000 đồng lên 2.789.000 đồng/tháng (tăng 35,7%), giữ nguyên tương quan hiện hưởng các mức trợ cấp ưu đãi người có công so với mức chuẩn trợ cấp.

Các nhóm đối tượng nhận trợ cấp xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội cũng được điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng từ 360.000 đồng lên 500.000 đồng/tháng (tăng 38,9%). Việc nâng mức trợ cấp như vậy đối với một số đối tượng như người già không có lương (người trên 80 tuổi) hoặc trẻ nhỏ có hoàn cảnh khó khăn (trẻ bị mồ côi) hoặc một số đối tượng yếu thế khác như thời điểm hiện nay cũng đã cải thiện được phần nào chi phí sinh hoạt cơ bản của cuộc sống.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách tiền lương từ 01/7/2024 đã tạo thêm niềm tin và động lực để nâng cao hơn nữa năng suất lao động và hiệu quả làm việc; cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang hay người lao động nói chung được nhận mức lương tăng thêm đã hăng say lao động, sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời việc điều chỉnh mức trợ cấp cho các đối tượng diện bảo trợ xã hội trong giai đoạn hiện nay cũng đã đạt được mục đích thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Hoàng Mai


Tin liên quan