Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực toàn diện về thể lực, trí lực, khả năng thích ứng, năng động, chủ động, kỹ năng lao động, hành vi và ý thức chính trị - xã hội; là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh, nhằm huy động nguồn lực toàn xã hội để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đại biểu dự hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020. Nguồn ảnh: baotuyenquang.com.vn
Nhận thức rõ con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XV đã xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong 4 lĩnh vực đột phá để thực hiện mục tiêu "sớm đưa Tuyên Quang thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc". Ngày 13/5/2011, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực toàn diện về thể lực, trí lực, khả năng thích ứng, năng động, chủ động, kỹ năng lao động, hành vi và ý thức chính trị - xã hội; là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh, nhằm huy động nguồn lực toàn xã hội để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh đã xây dựng nghị quyết, chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện; sau 10 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt được những kết quả quan trọng:
Cơ cấu nhân lực trong các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động trong nông lâm nghiệp, thủy sản, tăng dần tỷ lệ lao động trong công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ lệ 48,9% (giảm 25,91% so với năm 2011); công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ lệ 21,8% (tăng 10,73% so với năm 2011); dịch vụ chiếm tỷ lệ 29,3% (tăng 15,18% so với năm 2011).
Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ được coi trọng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, tỉnh đã ban hành cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao và hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo nâng cao trình độ. Trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức, viên chức ngày càng được nâng lên, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên tăng qua các năm; tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên cao đẳng, đại học chiếm 79,5% (tăng 48,4% so với năm 2011); tỷ lệ cán bộ, công chức tham mưu, nghiên cứu tổng hợp của cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể có trình độ chuyên môn đại học, trên đại học, cấp tỉnh chiếm 100% (tăng 3,6% so với năm 2011); cấp huyện chiếm 94,5% (tăng 6,4% so với năm 2011).
Giáo dục và đào tạo được quan tâm phát triển. Thực hiện thành công chương trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, năm 2013 Tuyên Quang là tỉnh thứ 7 trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi với 100% huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn đạt các tiêu chí phổ cập. Duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Thực hiện Nghị quyết số 73-NQ/TU ngày 10/12/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về huy động trẻ đi nhà trẻ trên địa bàn tỉnh, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp huy động trẻ đi nhà trẻ; đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 11.483/36.738, đạt 31,26% (tăng 5,71% so với năm 2011). Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ; ngành giáo dục đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được nâng lên; số học sinh đạt giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia tăng qua các năm; nền nếp, kỷ cương trong các cơ sở giáo dục và đào tạo được củng cố, tăng cường và ngày càng tiến bộ. Quy mô giáo dục và đào tạo tăng; trường, lớp học tiếp tục phát triển và được sắp xếp phù hợp hơn; cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và đào tạo từng bước được đầu tư, nâng cấp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu dạy và học. Trường Đại học Tân Trào, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh đã tích cực liên kết với các trường đại học trong nước đào tạo trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học. Đã bước đầu tạo lập được mối quan hệ tương trợ giữa Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp và người học trong phát triển nguồn nhân lực.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số, nâng cao thể trạng, thể lực cho nhân dân; đời sống của nhân dân, sức khỏe và trình độ dân trí ngày càng tiến bộ. Công tác lao động, việc làm được chú trọng, trong 10 năm đã tạo việc làm cho 217.892 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo và qua đào tạo nghề tăng, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60,3% (tăng 27,2% so với năm 2011), tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 39,1% (tăng 19,7% so với năm 2011).
Để tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh trong thời gian tới, các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguồn lực con người đối với sự phát triển của địa phương, đơn vị. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các quy hoạch, kế hoạch và chương trình, đề án về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; trên cơ sở đó bổ sung giải pháp hiệu quả, phù hợp để đạt được các mục tiêu đề ra; thực hiện nghiêm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu chức danh và vị trí việc làm. Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chú trọng chất lượng giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực toàn diện về thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi, ý thức chính trị và trách nhiệm với xã hội; có khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững với định hướng là công dân toàn cầu. Gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, các chương trình, dự án của tỉnh và thị trường lao động trong nước, xuất khẩu; chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động, nhất là lao động khu vực nông thôn. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa; hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, huy động, phát huy vai trò của doanh nghiệp đối với phát triển nguồn nhân lực.
Vũ Giang